Gen COMT quyết định tính cách chiến binh hoặc tính hay lo

Dec 9, 2019 | 23andme-raw-data | 0 comments

COMT Gene

Gen COMT mã hóa để sản sinh enzyme catechol – O -Methyltransferase. Enzyme này có liên quan đến việc làm giảm các chất dẫn truyền thần kinh, chuyển các nhóm methyl thành epinephrine, norepinephrine và dopamine (catecholamine). Enzyme COMT cũng liên quan đến sự phân hủy của một số loại thuốc được kê đơn cho bệnh tăng huyết áp, bệnh Parkinson và bệnh hen suyễn.

Chức năng của biến thể gen COMT

Các quy trình sau đây có liên quan đến biến thể COMT đang được nghiên cứu.

  • Epinephrine thành Metanephrine
  • Dopamine thành 3-Methoxytyramine
  • Norepinephrine thành Normetanephrine
  • Dihydroxyphenylethylene glycol (DOPEG) thành Methoxyhydroxyphenylglycol (MOPEG)
  • 3,4-Dihydroxymandelic acid (DOMA) thành Vanillylmandelic acid (VMA)
  • Methyl hóa catechol estrogen thành methoxy estrogen – Điều này có liên quan đến việc giảm nguy cơ tổn thương DNA và tăng nồng độ 2-methoxyestradiol (2-MeOE2), có đặc tính chống tăng sinh.

Catechol estrogen – vai trò trong bệnh ung thư

Catechol estrogen có liên quan đến sự điều hòa hormone và có thể có tác động nội tiết mạnh mẽ. Các hormone có thể bị ảnh hưởng bởi các catechol estrogen này bao gồm prolactin, hormone tạo hoàng thể và hormone kích thích nang trứng.

Estrogen được biết là dẫn đến ung thư bằng cách thúc đẩy sự tăng sinh của các tế bào và dẫn đến tổn thương. Những hormone này được phát hiện có khả năng gây nguyên phân cao, đặc biệt là trong các mô nhạy cảm như vú và tử cung. Khi các mô nhạy cảm này tiếp xúc với kích thích gây nguyên phân như vậy trong thời gian dài, thì sẽ dẫn đến ung thư.

Estradios được phát hiện gây tổn thương DNA (trao đổi nhiễm sắc tử chị em và quang sai nhiễm sắc thể). Các tác động nhiễm độc gen như vậy cũng được tạo ra bởi catechol estrogen.

Cơ chế chuyển đổi thành catechol estrogen:

Ở gan, CYP3A4 oxy hóa estrone và estradiol thành 2-hydroxycatechol và CYP1A trong các mô ngoài gan. Ở các vị trí ngoài gan, CYP1B1 oxy hóa estrone và estradiol thành 4-hydroxycatechol.

Nồng độ 4-hydroxyestradiol được phát hiện là cao nhất trong các mô ung thư khi so sánh với các loại estrogen khác nhau. Ở vùng dưới đồi và trong tuyến yên, nồng độ catechol estrogen được tìm thấy nhiều hơn gấp 10 lần so với estrogen của cha hoặc mẹ.

Các nghiên cứu cũng chỉ ra rằng catechol estrogen có tác dụng gây ung thư trên chuột nhiều hơn so với estradiol. Các catechol estradiol này cạnh tranh với estradiol để liên kết với

  • các thụ thể estrogen ở vùng dưới đồi và tuyến yên trước
  • các thụ thể dopamine ở màng trước tuyến yên

Biến thể COMT trong việc giảm nguy cơ ung thư:

Catechol estrogen được biết là ảnh hưởng đến DNA và dẫn đến tình trạng ung thư hoặc tự miễn dịch được chuyển đổi thành methoxy estrogen.

2- và 4-o-methylether, sản phẩm của COMT, được bài tiết qua nước tiểu và được tìm thấy là ít gây hại hơn.

Có thể sử dụng dữ liệu DNA thô của biến thể gen COMT mà một người đang mang để xác định mức độ ức chế của COMT. Sự gia tăng ức chế có thể dẫn đến tăng mức độ catechol estrogen.

Các loại oxy phản ứng tạo ra bởi catechol estrogen không chỉ làm tăng nguy cơ ung thư mà còn làm tăng các tình trạng tự miễn dịch khác như viêm khớp dạng thấp và bệnh lupus ban đỏ hệ thống.

COMT rs4680 (Val158Met)

Biến thể gen COMT này được nghiên cứu kỹ lưỡng và có liên quan đến tính cách chiến binh / hay lo lắng (tính cách), khả năng chịu đau (thể lực) và sự phụ thuộc cocaine (sự phụ thuộc chất) và nguy cơ mắc bệnh (sức khỏe)

rs4680- Alen kiểu hoang dại mã hóa cho valine trong khi đó alen A mã hóa cho methionine. Sự thay đổi axit amin này dẫn đến mức giảm gần 25% hoạt động của enzyme. Điều này dẫn đến tăng dopamine trong số những người mang alen A.

KIỂU GEN
KIỂU HÌNH
GG
Nhiều khả năng có hoạt tính enzyme cao hơn và nồng độ dopamine thấp hơn
GA
Hoạt tính enzyme vừa phải và nồng độ dopamine vừa phải
AA
Nhiều khả năng có hoạt tính enzyme thấp hơn và nồng độ dopamine cao hơn


Gen COMT và tính cách

Một nghiên cứu được thực hiện để xác định ảnh hưởng của biến thể COMT này cho thấy những người mang Valine có khả năng tăng hoạt động trước trán tốt hơn và phản ứng tốt hơn với các kích thích bất lợi. Những cá nhân này được các nhà nghiên cứu phân loại là có tính cách chiến binh. Người mang alen có trí nhớ tốt hơn và có lợi thế trong các nhiệm vụ cần sự chú ý. Những cá nhân này được các nhà nghiên cứu gọi là người hay lo lắng, cung cấp một cách để xác định tính cách chiến binh (warrior) và hay lo lắng (worrier).

Một nghiên cứu được thực hiện vào năm 2015 trên người trưởng thành bình thường cho thấy rằng những người mang biến thể đặc trưng của gen COMT này có điểm số thấp hơn về tình trạng loạn thần kinh trong khi đó có điểm số cao hơn về sự tận tâm và tính dễ chịu.

Báo cáo tính cách của Sitragene cung cấp thông tin về xu hướng di truyền cho một số đặc điểm tính cách nhất định, bao gồm tính cách chiến binh và hay lo lắng, và 5 đặc điểm tính cách lớn.

Gen COMT và nguy cơ mắc bệnh

Biến thể COMT rất quan trọng trong việc xác định nguy cơ mắc bệnh tâm thần phân liệt. Một nghiên cứu được thực hiện vào năm 2016 cho thấy biến thể gen COMT có liên quan đến các triệu chứng tiêu cực của tâm thần phân liệt và rối loạn lưỡng cực.

Báo cáo sức khỏe của Sitragene bao gồm tính mẫn cảm đối với hơn 45 bệnh, bao gồm cả tâm thần phân liệt.

Gen COMT và sự phụ thuộc cocaine

Biến thể COMT được biết là có ảnh hưởng đến sự điều tiết dopamine ở vỏ não trước trán (PFC) có liên quan đến nhận thức và tính cách. Tuy nhiên, rối loạn chức năng PFC cũng rất quan trọng trong việc phụ thuộc cocaine, có thể góp phần làm mất kiểm soát và do đó, góp phần gây sự phụ thuộc. Biến thể này cũng có liên quan đến tình trạng lạm dụng chất khác.

Báo cáo về tình trạng phụ thuộc chất của Sitragene bao gồm nguy cơ phụ thuộc vào nhiều chất bao gồm cocaine, cần sa, heroin, rượu và nicotine.

Gen COMT và cơn đau

Trong một nghiên cứu do các nhà nghiên cứu từ Đại học Michigan thực hiện, biến thể COMT có liên quan đến cường độ của cơn đau.

Ảnh hưởng của giới tính đến biến thể gen COMT

Hoạt động của enzyme COMT thấp hơn ở nữ giới khoảng 305 vì bị suy giảm do sự hiện diện của estrogen. Điều này dẫn đến hoạt động của dopamine ở nữ nhiều hơn ở nam. Do đó, nam giới được hưởng lợi từ việc tăng nồng độ dopamine nhiều hơn so với nữ giới.

Biến thể gen COMT các chất bổ sung

Nghiên cứu dữ liệu thô DNA sẽ giúp xác định các cá nhân có hoạt tính enzyme COMT thấp và những người có nồng độ dopamine cao hơn. Tuy nhiên, mức tiêu thụ một số chất bổ sung methyl nhất định có thể dẫn đến giảm nồng độ dopamine có thể dẫn đến thay đổi tâm trạng.

Một số chất bổ sung bao gồm

  • methyl B12
  • Curcumin
  • các flavonoid có chứa catechol: quercetin, axit ferulic, rutin, fisetin và luteolin.

COMT và MTHFR

Enzym COMT đóng vai trò trong quá trình methyl hóa. Các cá nhân mang các biến thể di truyền liên quan đến enzyme MTHFR thấp hơn và các biến thể di truyền liên quan đến enzyme COMT thấp hơn sẽ dễ chịu ảnh hưởng của stress/căng thẳng.

Tham khảo:

  1. https://en.wikipedia.org/wiki/Catechol_estrogen
  2. https://www.ncbi.nlm.nih.gov/pmc/articles/PMC2583214/
  3. https://www.ncbi.nlm.nih.gov/pubmed/12595695
Theo dõi
Thông báo về
guest
0 Comments
Inline Feedbacks
View all comments

19008043